Bảo vệ cây trồng
baovecaytrong.com
  KỸ THUẬT SẢN PHẨM» email Thứ Hai, 29/5/2017
Nhóm  

Bón phân Đầu Trâu cho lúa trên đất nhiễm mặn đồng bằng Sông Cửu Long

HIỆN TRẠNG ĐẤT NHIỄM MẶN Ở ĐBSCL

Đất mặn là loại đất chứa hàm lượng muối tổng số cao (>0,2%) và có nhiều ion gây độc cho cây trồng. Do nồng độ muối tổng số cao nên áp suất thẩm thấu của dung dịch đất rất cao cho nên cây không thể hút được nước, gây nên hiện tượng hạn sinh lý. Một số ion ở nồng độ thấp không độc nhưng ở nồng độ cao lại gây độc. Các ion này cạnh tranh với chất dinh dưỡng làm cho rễ khó hút chất dinh dưỡng. Thành phần các muối trong đất mặn phổ biến là NaCl, Na2SO2, Na2SO4, Na2CO3, MgCl2, MgSO4 các muối này ở nồng độ cao đều gây độc cho cây

Thực tế ở một số vùng đất nhiễm mặn không chỉ đơn thuần là mặn mà còn ảnh hưởng bởi các yếu tố phèn do các ion Fe ++ và Al +++ . Do vậy , một số loại phân bón có hiệu quả với đất phèn đều có hiệu quả với đất nhiễm mặn - phèn.

ĐBSCL có ba nhóm đất chính: đất phèn khoảng 1,6 triệu ha chiếm khoảng 41%, đất phù sa 1,18 triệu ha, chiếm khoảng 30% và đất mặn và nhiễm mặn 0,74 triệu ha, chiếm khoảng 19% .Trong đó nhóm đất nhiễm mặn được xem là khó khăn nhất trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng.

Hiện trạng trồng lúa trên đất nhiễm mặn ở ĐBSCL như sau:

1) Những vùng trồng hai vụ lúa Hè Thu và lúa mùa, gồm các tỉnh Hậu Giang, Trà Vinh, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Bến Tre, Tiền Giang và Long An. Những vùng này thường không có nước ngọt trong mùa khô nên lúa chỉ trồng được trong mùa mưa (nhờ nước trời ) chủ yếu là Hè thu-Vụ mùa.

2) Những vùng trồng 2 vụ: lúa Đông xuân và Hè thu là các vùng đất phù sa ven biển ở các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh và Kiên Giang. Những vùng này bị nhiễm mặn vào mùa khô thường từ tháng 2 đến tháng 5 và không bị ngập trong mùa lũ. Ở những vùng này, vụ Đông-Xuân thường bắt đầu sớm và cho thu hoạch trước khi mặn xâm nhập. Vụ Hè-Thu thư  ng bắt đầu trễ hơn các vùng khác vì phải chờ mưa, nước trên sông rạch không còn bị mặn.

KỸ THUẬT BÓN PHÂN HẠN CHẾ TÁC HẠI CỦA MẶN

Cây lúa chịu được mặn trong giai đoạn nảy mầm, mẫn cảm trong giai đoạn cây non (khoảng 1-2 lá), có khả năng chịu mặn trong giai đoạn đẻ nhánh, nhưng lại mẫn cảm trong thời kỳ trổ bông.

Do vậy, áp dụng các biện pháp canh tác trong đó có việc sử dụng phân bón phải có vai trò điều chỉnh môi trường đất sao cho độ mặn trong dung dịch đất phải luôn ở dưới ngưỡng gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Một số biện pháp kỹ thuật gồm:

- Dùng phân bón có kali nhằm làm tăng hàm lượng K+ trong cây từ đó hạn chế sự thu hút Na+vào cây, hạn chế độc do Na, cần hạn chế sử dụng phân bón cl o rua kali ( KCl)

- Bón một số dạng phân có chứa Ca++ như CaO, CaCO3, CaSO4, Ca(NO3)2 cho lúa có khả năng tăng tích lũy nồng độ proline cao để điều chỉnh thẩm thấu, gia tăng khả năng hút nước của cây, hạn chế việc hấp thu và vận chuyển Na+, Cl- từ rễ vào thân cây, do đó gia tăng khả năng chống chịu mặn.

- Cần ưu tiên sử dụng phân đạm gốc amon ( NH4+) để hạn chế độc Na+ và dạng phân lân dễ tiêu như superlân, lân trong DAP, MAP, MKP... để cung cấp lân cho cây, hạn chế sự thu hút các ion Cl- quá nhiều trong cây.

Sử dụng phân bón chứa silic có khả năng thúc đẩy quá trình quang hợp, gia tăng tỷ lệ chọn lọc của K +:Na+và giảm lượng hút Na+ của cây trồng.

-Phun phân bón lá vào các giai đoạn sinh trưởng khác nhau cũng giúp cho cây lúa đủ sức vượt qua được tác hại do mặn gây ra khi bộ rễ không hút đủ dinh dưỡng, đồng thời cũng làm tăng khả năng chống chịu điều kiện bất thuận như nóng, hạn (gồm cả hạn sinh lý ) do mặn gây ra.

MỘT SỐ PHÂN BÓN PHÙ HỢP TRÊN ĐẤT NHIỄM MẶN

Căn cứ vào tính chất của đất trồng lúa bị nhiễm mặn, Công ty cổ phần phân bón Bình Điền đã khuyến cáo sử dụng phân bón hợp lý cho vùng đất này như sau:

- Lân hạ phèn Đầu Trâu (15% P2O5, CaO: 20%, MgO: 10%, SiO2: 25% ) dùng bón lót

- Lân vôi Đầu Trâu: (10% P2O5, CaO: 10%, MgO: 7,5%, SiO2: 12% ) dùng bón lót

- Đầu Trâu TE + Agrotain Lúa 1: 20% N; 15% P2O5 ; 7% K2; 0.3% CaO; 0.2% MgO; SiO2..; Agrotain của Mỹ: 0,06% , dùng cho thúc lần và 2

- Đầu Trâu TE + Agrotain Lúa 2 : 18% N; 4% P2O5 ; 20% K2; 0.3% CaO; 0.2% MgO; SiO2...; Agrotain của Mỹ: 0,07%, dùng bón thúc đ ó n đòng

Quy trình sử dụng phân bón Đầu Trâu

*Đối với lúa cao sản ngắn ngày (kg/ ha )

- Bón lót: Lân hạ phèn hoặc lân vôi Đầu Trâu : 400-500 kg

- Thúc 1 (7-10 ngày sau sạ) Đầu Trâu TE + Agrotain Lúa 1: 100-125 kg

- Thúc 2 (20-25 ngày sau sạ): Đầu Trâu TE + Agrotain Lúa 1: 125-150 kg

- Thúc 3 (40-45 ngày): Đầu Trâu TE + Agrotain Lúa 2: 75-100 kg

Với lúa cấy, đợt bón 7-10 ngày chuyển qua bón lót.

*Đối với lúa mùa: (kể cả một số giống lúa mùa thơm đặc sản)

- Bón lót: 400-500 kg lân Đầu Trâu hạ phèn hoặc lân vôi Đầu Trâu trước khi làm đất lần cuối

- Thúc lần 1 (khi cấy hoặc sau sạ 10-15 ngày): 75-100 kg phân Đầu Trâu TE + Agrotain Lúa 1

Thúc lần 2 (đẻ nhánh) Bón từ 75-100 kg phân Đầu Trâu TE + Agrotain Lúa 1

- Thúc lần 3 (đón đòng): 75-100 kg phân Đầu Trâu TE + Agrotain Lúa 2

Tùy theo đất, giống và mùa vụ, có thể sử dụng mức phân bón thấp, trung bình hay cao.

Ths.Phạm Anh Cường
Trưởng phòng nghiên cứu và phát triển
Công ty cổ phần phân bón Bình Điền

Theo http://www.binhdien.com


TIN TỨC
KỸ THUẬT

Cây màu xen thanh long

BẢO VỆ THỰC VẬT

Ong ký sinh phòng trừ rệp sáp bột hồng hại sắn

PHÂN BÓN

Phân bón nào phù hợp thổ nhưỡng, cây trồng Tây Nguyên?

GIỐNG CÂY

Phục tráng giống lúa Cáy Nọi

KINH NGHIỆM NHÀ NÔNG
Ươm cao su giống, thu tiền tỷ
BÀN TRÒN

Bệnh ở cây lộc vừng

Bản quyền © 2010-2013 Thuộc về baovecaytrong.com.