Bảo vệ cây trồng
baovecaytrong.com
  KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT» email Thứ Năm, 16/8/2018
Cây Trồng  

Kỹ thuật trồng thanh long

Cây Thanh Long (Hylocereus undulatus, Haw.)
TS. Nguyễn Văn Kế - Đại học Nông Lâm
Trích nguồn từ http://www.longdinh.com.vn/

1. GIỚI THIỆU

Cây thanh long (tên tiếng Anh là Pitahaya, hay còn gọi là Dragon fruit, thuộc họ Xương rồng, có nguồn gốc ở các vùng sa mạc thuộc Mehico và Colombia. Thanh 1ong được người Pháp đem vào trồng ở Việt Nam trên 100 năm nay, nhưng mới được đưa lên thành hàng hóa từ thập niên 1980. Việt Nam hiện nay là nước duy nhất ở Đông  Nam á có trồng thanh long tương đối tập trung trên qui mu thương mại với diện tích ước lượng 4.000 hectare (1998), tập trung tại Bình Thuận 2.716 hectare, phần còn lại là Long An, Tiền Giang, TP. HCM, Khánh Hòa và rải rác ở một số nơi khác. Nông dân Việt Nam với sự cần cù sáng tạo đã đưa trái thanh long lên mặt hàng xuất khẩu làm nhiều người ngoại quốc ngạc nhiên. Hiện nay, nước ta đã xuất khẩu thanh long qua nhiều nước dưới dạng quả tươi. Riêng thị trường Nhật do sự kiểm dịch thực vật rất khắt khe trong vài năm gần đây đã chỉ nhập thanh long dưới dạng đông lạnh. ở Bình Thuận nói riêng và Nam bộ nói chung mùa thanh long tự nhiên xảy ra từ tháng 4 tới vườn tháng 10, rộ nhất từ tháng 5 tới tháng 8. Vào thời điểm ấy giá rẻ , một số nhà vườn tiến bộ đã phát hiện, hoàn chỉnh dần từng bước kỹ thuật thắp đèn tạo quả trái vụ để chủ động thu hoạch, nâng cao hiệu quả kinh tế. Vài năm gần đây Thái Lan, Taiwan và cả Trung Quốc cũng đã bắt đầu nghiên cứu trồng cây này.

2. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

2.1. Sinh thái

Là cây có nguồn gốc nhiệt đới, chịu hạn giỏi, nên được trồng ở những vùng nóng. Một số loài chịu được nhiệt độ từ 500C tới 550C . Nhưng nó không chịu được giá lạnh. Chúng thích hợp khi trồng ở các nơi có cường độ ánh sáng mạnh, vì thế hễ bị che nắng thân cây sẽ ốm yếu và lâu cho quả. Cây mọc được trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám bạc màu (Bình Thuận), đất phèn (TP.HCM), đất đỏ latosol (Long Khánh)…; nó có khả năng thích ứng với các độ chua (pH) của đất rất khác nhau. Khi trồng thanh long nên chọn các chân đất có tầng canh tác dày tối thiểu 30 - 50 cm và để có năng suất cao nên tưới và giữ ẩm cho cây vào mùa nắng. Nhưng cây thuộc họ xương rồng chịu hạn giỏi nhưng chịu đựng độ mặn kém, dù vậy đã có một số hộ ở Cần Giờ trồng thử thanh long trên đất bị nhiễm mặn (0,8%) đã được lên liếp và cải tạo tầng mặt, mùa khô không tưới.

2.2. Thực vật học

2.2.1. Rễ cây

Khác hẳn với chồi cành, rễ thanh long không mọng nước nên nó không phái là nơi tích trữ nước giúp cây chịu hạn. Cây thang long có hai loại rễ: địa sinh và khí sinh.

Rễ địa sinh phát triển từ phần lôi ở gốc hom. Sau khi đặt hom từ 10 - 20 ngày thì từ gốc hom xuất hiện các rễ tơ màu trắng, số lượng rễ tăng dần và kích thước của chúng cũng tăng dần theo tuổi cây, những rễ lớn đạt đường kính từ 1 - 2 cm. Rễ địa sình có nhiệm vụ bám vào đất và hút các chất dinh dưỡng nuôi cây. Rễ phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt (0 - 15 cm). Theo Gibson và Nobel (1986) thì rễ xuất hiện trong tầng đất từ 0 - 30 cm. ở các nơi đất xốp và có tưới nước rễ có thể mọc sâu hơn. Khi đất khô các rễ sợi sẽ chết đi, các rễ cái lớn hơn sẽ hóa bần làm giảm sự dẫn nước khoảng 10 lần để ngăn chặn sự mất nước vào đất thông qua rễ. Khi đất ẩm rễ lại mọc trở lại một cách dễ dàng.

Rễ khí sinh mọc dọc theo thân cây phần trên không, bám vào cây chống (choái) để giúp cây leo lên giá đỡ. Những rễ khí sinh nằm gần đất sẽ đi dần xuống đất.

2.2.2. Thân, cành

Thanh long (một loại xương rồng) trồng ở nước ta có thân, cành trườn bò trên trụ đỡ (climbing cacti), trong khi ở một số nước trồng loại xương rồng thân cột (columnar cacti). Thân chứa nhiều nước nên nó có thể chịu hạn một thời gian dài. Thân, cành thường có ba cánh dẹp, xanh, hiếm khi có 4 cánh. ở các nước khác có thứ 3, 4, 5 cánh. Tiết diện ngang cho thấy có hai phần: bên ngoài là nhu mô chứa diệp lục, bên trong là lõi cứng hình trụ. Mỗi cánh chia ra làm nhiều thùy có chiều dài 3 - 4cm. Đáy mỗi thùy có từ 3 - 5 gai ngắn. Chúng sử dụng CO2 trong quang hợp theo hệ CAM (Crassulacean Acid Metabolism) là một hệ thích hợp cho các cây mọc ở vùng sa mạc. Mỗi năm cây cho từ 3 -  4 đợt cành. Đợt cành thứ nhất là cành mẹ của đợt cành thứ hai và cứ thế cành xếp thành hàng lớp trên đầu trụ. Trong mùa ra cành, khoảng thời gian giữa hai đợt ra cành từ 40 - 50 ngày. Số lượng cành trên cây tăng theo tuổi cây: cây một tuổi trung bình có độ 30 cành, hai tuổi độ 70 cành, ba tuổi độ 100 cành và bốn tuổi 130 cành. ở cây 5 - 6 tuổi chỉ duy trì độ 150 - 170 cành.

Chiều dài cành thanh long đo ở cuối vụ thu hoạch được trình bày ở bảng 1.

Bảng 1: Chiều dài cành thanh long

Tuổi vườn

Trung bình (cm)

Dài nhất (cm)

Ngắn nhất (cm)

1

73

119

42

2

82

140

52

3

98

180

49

4

108

160

45

5

103

140

53

2.2.3. Hoa

Thanh long là cây ngày dài (trường quang kỳ). Tại Nam bộ hao xuất hiện sớm nhất vào trung tuần tháng 3 dương lịch (dl) và kéo dài tới khoảng tháng 10 dl, rộ nhất từ tháng 5 dương lịch tới tháng 8 dương lịch. Trung bình có từ 4 - 6 đợt ra hoa rộ mỗi năm.

Hoa lưỡng tính, rất to, có chiều dài trung bình 25 - 35 cm, nhiêu lá đài và cánh hoa dính nhau thành ống, nhiều tiểu nhị và 1 nhụy cái dài 18 - 24 cm, đường kính 5-8 mm, nuốm nhụy cái chia làm nhiều nhánh. Hoa thường nở tập trung từ 20 - 23 giờ đêm và đồng loạt trong vườn. Từ nở đến tàn kéo dài độ 2 - 3 ngày. Thời gian từ khi xuất hiện nụ tới hoa tàn độ 20 ngày. Các đợt nụ đầu tiên rụng từ 30% đến 40%, về sau tỉ lệ này giảm dần khi gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi.

Tại nông trường Phạm Văn Hai trên các liếp đất phèn cây thanh long đã trồng được 3 năm, nghiên cứu các đợt thanh long ra hoa cho thấy như sau:

Bảng 2 : Sự ra hoa của thanh long trong năm

Ngày/tháng/năm

Số hoa ra

Tỷ lệ (%)

10/3 - 04/5/1995

583

2,57

11/5 - 31/5/1995

4343

19,14

01/6 - 30/6/1995

9945

43,83

01/7 - 31/7/1995

6788

29,92

01/8 - 31/8/1995

997

4,40

01/9 - 11/9/1995

32

0,14

Tổng số hoa ra trong năm

22.688

100,00

Số hoa trên mỗi trụ

94,5

 

Ghi chú: Theo dõi 240 trụ tại hộ anh Võ Thành Nghiệp.

Như vậy mùa ra hoa rộ là từ giữa tháng 5 tới cuối tháng 8.

2.2.4. Quả và hột

Sau khi hoa thụ, bầu noãn sẽ phát triển thành quả mọng (cactus pears), trong 10 ngày đầu tốc độ phát triển tương đối chậm, sau đó tăng rất nhanh về cả kích thước lẫn trọng lượng. Thời gian từ khi hoa thụ tới thu hoạch chỉ từ 22 - 25 ngày, trong thí nghiệm thắp đèn tạo quả trái vụ của Đỗ Văn Bảo thì thời gian này là 25 - 28 ngày. Như vậy thời gian phát triển của quả thanh long tương đối ngắn so với nhiều loại quả nhiệt đới khác như xoài, sầu riêng, chuối, dứa thường phải mất từ 85 tới 140 ngày. Quả thanh long hình bầu dục có nhiều tai lá xanh (do phiến hoa còn lại), đầu quả lõm sâu tạo thành “hốc mũi”. Khi còn non vỏ quả màu xanh, lúc chín chuyển qua đỏ tím rồi đỏ đậm. Thịt quả màu trắng cho đại đa số thanh long trồng ở miền Nam Việt Nam.

Tại Bình Thuận phân tích 100 quả lấy ngẫu nhiên cho thấy sự phân bố về kích thước và trọng lượng như sau:

Bảng 3 : Thành phần cấp quả của thanh long ở Bình Thuận

Hạng quả (g)

Tỷ lệ (%)

Trọng lượng TB (g)

Dài TB (cm)

TB (cm)

Dày vỏ (mm)

Phần ăn được (G)

< 330

20

270

12,5

11

4,8

170

330 - < 500

65

410

13

12

4,6

315

500 - <700

12

565

15

12

4,5

400

³ 700

3

750

16

13,5

3,8

550

Trong một thí nghiệm xử lý thanh long ra hoa trên đất phèn nông trường Phạm Văn Hai (10) cân ngẫu nhiên 150 quả, trọng lượng trung bình là 568,8 g. Dài trung bình là 12,28 cm và đường kính trung bình là 9,2 cm, như vậy quả đặc và chắc hơn. Gần đây do thâm canh cao, đã có nhiều quả lớn trọng lượng từ l kg đến l,3 kg. Thường quả nặng trên 300 g là đã có thể xuất khẩu được.

Phân tích thành phần sinh hóa cho thấy trong 100 g thịt quả chín: hàm lượng đường tổng số có thể biến động từ 8 g đến 12 g, vitamin C từ 3,8 mg đến 9,4 mg. Có sự biến động này là do phân bón, chế độ chăm sóc và thời gian hái, hễ để quả chín trên cây càng lâu càng ngọt. Trong bản dự thảo mô tả sản phẩm thanh long mà phân viện Công Nghệ Sau Thu Hoạch đã xây dựng cho thấy độ Brix của thanh long ở Bình Thuận biến thiên từ 11% đến 15,3%, quả có độ cứng từ l,73 tới 2,0 lbs (15).

Chi tiết được trình bày ở bảng 4, theo đó ngoài chất đường, sinh tố, quả còn chứa nhiều muối khoáng như K, Ca và Mg.

Bảng 4 : Thành phần sinh hóa của quả

Thành phần

Trong 100 g ăn được

Brix (tổng số chất hòa tan)

13

Đường khử (g)

6,1

Đường tổng số (g)

11,5

Acid hữu cơ (g)

0,13

Protein (g)

0,53

K (mg)

212,2

P2O5 (mg)

8,7

Ca (mg)

134,5

Mg (mg)

60,4

Vitamin C (mg)

9,4

Xơ (g)

0,71

Phân tích tại Bộ môn Sinh lý - Sinh hóa và Bộ môn Thủy Nông thuộc Đại học Nông Lâm TP. HCM.

Hột: Mỗi quả có rất nhiều hột nhỏ, màu đen nằm trong khôi thịt quả màu trắng. Do hột nhỏ và mềm nên không làm phiền người ăn như hột của một số loại quả khác (23).

3. GIỐNG TRỒNG

Một số người cho rằng thanh long ở Việt Nam có ba giống: dạng quả tròn, quả dài, quả chôm chôm (quả nhỏ). Qua điều tra chúng tôi nhận thấy có cả 3 dạng quả trên cùng một cành, trên cùng một cây. Dạng quả tùy thuộc vào điều kiện sinh thái, nhất là chế độ ánh sáng và chế độ chăm sóc. Theo Jean Bourdenut (CIRAD-FLHOR) thì thanh long Việt Nam là loại thanh long ruột trắng, giống thuần do nhân vô tính bằng hom. Sau đó ông đã đưa vào Việt Nam hai giống ruột đỏ và ruột vàng (1995), hiện đang trồng và theo dõi, sức sinh trưởng của hai giống mới nhập yếu hơn và cũng theo Jean Bourdeaut thanh long của ta trái to và ngọt hơn.

Giống ruột đỏ và ruột vàng có quả nhỏ hơn và vỏ dày hơn. TS. Suraphong Kosiya-chinta cho biết ông hai giống ruột trắng và đỏ thì được giống ruột hồng.

Đã có nhiều nghiên cứu về giống thanh long theo Carranza A. E. (Nuestra Tiera, Oct 1976, v.2(8) P9-10,2 l Spanish) thì có các loài H. trigonusH. tetragonusH.  pentagunus ... Nước ta cần du nhập và lai tạo để ngày càng có nhiều giống mới hấp dẫn hơn.

4. KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT

4.1. Chuẩn bị đất

4.1.1. Đất cao

Tại Bình Thuận khi có điều kiện hầu hết các chân đất đều được bà con khai thác trồng thanh long như đất rừng, đất thổ cư, các khu vườn tạp. Phần lớn là đất xám bạc màu, nhiều cát. Có nơi khai thác tới sát chân núi. Công việc chuẩn bị đất tương đối đơn giản: cắm cọc, đào lỗ xuống trụ. Sau khi chôn xong trụ thì đào âm quanh trụ sâu độ 10 - 20 cm, đường kính 1,5 m, bón lót phân chuồng rồi phủ lớp đất mặt lên sau đó đặt hom.

4.1.2. Đất thấp

Trên các liếp đất phèn trồng dứa và mía trước đây thuộc các nông trường Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân, Láng Le, hay tại xã Bình Lợi... bà con tu bổ lại liếp, chiều cao mặt liếp so với mặt nước trong mương độ 40 cm, để đề phòng trong mùa mưa nước có thể dâng cao ngang mặt liếp nhất là ở những nơi thấp thì cần phải làm thêm mực trước khi xuống giống. Hễ bị ngập nước một vài tuần nhánh thanh long sẽ vàng, khi nước rút phải bón phân để cây phục hồi lại nhưng như vậy năng suất sẽ không cao.

Đất cần phải được cày bừa kỹ trong mùa nắng, phơi đất, trừ cỏ dại. Hễ cày bừa, làm cỏ không kỹ sau này chi phí trừ cỏ sẽ rất cao, cỏ nguy hiểm trên đất phèn là: cỏ tranh, cỏ ống, cỏ sâu rọm, .vv...

4.2. Mật độ - khoảng cách và bố trí cây trồng: Tại Bình Thuận 84,3% số hộ trong mẫu phỏng vấn chỉ trồng thuần thanh long. 16,6% số hộ còn lại có trồng xen đậu phọng trong 1 - 2 năm đầu. Tại TP. HCM, Long An. .. trên liếp thanh long có trồng xen dứa, hoặc các loại rau như ớt, dưa hấu, cà... Tại Long An thanh long có thể được trồng trên mô hay trên liếp ở trên ruộng lúa, hoặc thanh long trồng trên liếp có xen các loại rau như rau muống, cải, ớt, dưa hấu... dưới mương nuôi cá.

Nên trồng thanh long ở mật độ từ 700 - 1.000 trụ/ha ứng với khoảng cách khoảng 3 m x 3 m. Thanh long là cây cần nhiều ánh nắng nên hễ trồng dầy thì quả nhỏ, bán không được giá. Lấy mẫu một số quả ở các vườn có mật độ khác nhau tại Long An cho thấy có quan hệ giữa kích thước quả và mật độ cây, chi tiết được trình bày ở bảng 5.

Bảng 5. Quan hệ giữa mật độ và trọng lượng quả

Khoảng cách
(m)

Mật độ cây/
1000 m2

Trọng lượng
trung bình quả (g)

2,5 ´ 2,5

140 - 150

294

2,5 ´ 3,0

100 - 110

322

2,5 ´ 3,5

90 - 100

344

3,0 ´ 3,5

70 - 80

370

Nguồn: Lý Ngọc Đính, BCTN, ĐHNL, 1992

4.3. Chuẩn bị cây trụ

Cây thanh long cần bám vào cây trụ nên việc chọn lựa trụ và chuẩn bị là công việc người lập vườn thanh long cần quan tâm trước tiên, chi phí về cây trụ chiếm tỉ lệ cao nhất trong số tiền đầu tư ban đầu. Hầu hết nhà vườn ở Bình Thuận chọn trụ chết bằng gỗ, loại gỗ được chọn thường là loại gỗ tết, chịu được nắng mưa, lâu mục. Loại được dùng nhiều là:

- Căm xe Xylia dolabriformis Benth

- Cẩm Liên Xylia xylocarter Taub

- Cà Chắc Pentaeme siamensis Kurs

- Sao đen Hopea odorata Roxb

Việc chọn chiều dài, đường kính trụ, phần chôn dưới đất được trình bày ở bảng 6.

Cây trụ thường được chọn có đường kính trên 25 cm, dài 2,5 - 2,7 m, sau khi chôn còn cao khoảng 2,0 m. Hiện nay xu hướng của nông dân là hạ thấp trụ xuống, nghĩa là sau khi chôn trụ xong còn cao trung bình từ 1,6 m đến 1,8 m, còn đường kính sử dụng chỉ còn