Bảo vệ cây trồng
baovecaytrong.com
  KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT» email Thứ Năm, 22/6/2017
Cây Trồng  

Ðậu Hà Lan

Tiếng Anh : Pea - Tên khoa học: Pisum sativum L.

Một vài nét về cây đậu Hà Lan

Đậu Hà Lan là thành viên quan trọng trong họ đậu (Leguminaceae), là cây rau chủ yếu ở các nước có khí hậu ôn hoà và ở vùng nhiệt đới có mùa đông lạnh.

Đậu Hà Lan còn có tên là đậu Anh.

Đậu Hà Lan có thể sử dụng dưới dạng quả non, hạt tươi, hạt khô. Đậu Hà Lan còn là nguyên liệu dùng để chế biến đóng hộp. Là mặt hàng xuất khẩu của một số nước trên thế giới.

Đậu Hà Lan có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả tươi, non có nhiều đường, protein, vitamin C... Diện tích đậu Hà Lan ở nước ta còn rất nhỏ bé, phân tán. Tuy đậu Hà Lan đã được trồng ở Việt Nam hàng thế kỷ nay nhưng sản lượng thấp. Đậu Hà Lan được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lào Cai (Sapa), Hà Giang và một số vùng ở các tỉnh thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng. Vùng Đà Lạt (Lâm Đồng) có điều kiện khí hậu phù hợp cho cây đậu Hà Lan sinh trưởng phát triển.

Người tiêu dùng Việt Nam thường sử dụng quả non để xào, nấu và trang trí các món ăn trong các bữa tiệc, cỗ bàn... Nhiều năm trở lại đây, hạt đậu Hà Lan tươi và khô đã được sử dụng rộng rãi hơn trong các nhà hàng, khách sạn. Vì vậy đậu Hà Lan đang có xu hướng được chú ý trong sản xuất.

Nguồn gốc phân loại

Nguồn gốc

Một số tài liệu nghiên cứu cho rằng: đậu Hà Lan có nguồn gốc ở vùng Trung Á, Abyssinia và Địa Trung hải. Những vùng này là trung tâm thứ nhất, còn vùng Cận đông là trung tâm thứ hai. Cũng có tác giả cho rằng: vùng đồng bằng sông Ethiopia là trung tâm thứ hai.

Vavilov cũng đã xác định nguồn gốc của cây đậu Hà Lan là ở Trung Á, vùng Cận đông, Abyssinia và Địa Trung hải. Đây là trung tâm cơ bản về gen, chúng đa dạng và phong phú về dạng hình.

Đậu Hà Lan là cây trồng lâu đời nhất, lịch sử trồng trọt đã có tới 7000 - 9000 năm.

Phân loại

Có nhiều phương pháp phân loại đậu Hà Lan, người ta phân loại theo loại hình sinh trưởng: hữu hạn và vô hạn; phân loại theo chiều cao cây: dạng bụi và dạng leo; phân loại theo nếp nhăn trên hạt: hạt nhẵn và hạt nhăn; phân loại theo cách sử dụng: quả non và hạt.

Đậu Hà Lan ăn quả có hai biến chủng sau:

  • Pisum sativum var. saccharatum, người ta gọi là đậu tuyết, đậu Hà Lan ngọt, hoặc đậu Hà Lan Trung Quốc.
  • Pisum sativum var. macrocarpon, quả ngọt và giòn.
  • Đặc điểm chủ yếu của những biến chủng này là thịt quả dầy, hạt phát triển rất chậm. Do đó người ta thường sử dụng chúng dưới dạng quả non.
  • Đậu Hà Lan ăn hạt (khô) được xem là cây trồng nông nghiệp nhưng cũng nằm trong loài Pisum sativum.
Ðặc điểm thực vật học

Hệ rễ

Hệ rễ của những cây đậu rau nói chung và cây đậu Hà Lan nói riêng là loại rễ phát triển trung bình. Rễ chính có thể ăn sâu vào đất, nhưng rễ phụ phát triển yếu. Rễ chính có thể ăn sâu 70 - 80 cm.

Nhìn chung hệ rễ không phát triển rộng trong đất. Cũng giống như những loài đậu khác, rễ của đậu Hà Lan có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần Rhizobium, có khả năng cố định đạm tự do trong khí trời. Do vậy có ảnh hưởng tốt đến sự sinh trưởng và phát triển của cây. Sau khi thu hoạch, toàn bộ rễ thân lá sẽ là chất cải tạo đất, làm tăng độ phì đất.

Thân

Đậu Hà Lan là cây thân thảo hàng năm. Thân cây mềm và có cạnh, phân cành ít, thân rỗng, phần gốc cây thì ít bị rỗng.

Nhìn chung thân lá, không tự đứng thẳng đặc biệt là loại hình sinh trưởng vô hạn. Vì vậy cần có dàn để nâng đỡ thân cành.

Căn cứ vào chiều cao cây có thể phân chia thành 2 loại chủ yếu:

  • Loại hình sinh trưởng vô hạn, thân cây leo bò, thân lá xum xuê, số đốt trên cây nhiều, cây sinh trưởng, phát triển liên tục cho đến khi già cỗi.
  • Trong sản xuất cần thiết phải làm dàn để tạo điều kiện cho cây sinh trưởng, phát triển tốt.
  • Loại hình sinh trưởng hữu hạn, thân cây thấp lùn (dạng bụi), số đốt trên thân ít, cây sinh trưởng phát triển cho tới khi kết thúc một chùm hoa ở phần ngọn.
Giữa hai loại hình sinh trưởng còn tồn tại loại hình sinh trưởng bán hữu hạn, loại hình trung gian cũng có thể gọi là dạng bán leo.

Lá của đậu Hà Lan thuộc loại lá kép gồm một số đôi lá chét (lá kèm ở cuống lá có 2 đôi lá chét, phần ngọn lá là tua cuốn. Đó là sự biến thái của lá chét, lá mọc cách trên thân, hình dạng lá thay đổi rất lớn, hầu hết lá chét của những giống trồng trọt rất lớn, còn ở những giống khác hầu hết lá chét đã biến thái thành tua cuốn. Vì vậy những dạng hình này không có lá. Đặc trưng hình thái của lá chịu sự chi phối rất lớn của gen di truyền. Có tác giả cho rằng gen t làm cho cây có nhiều lá chét và không có tua cuốn, còn gen St làm giảm lá kèm và lá chét.

Do sự sắp xếp kiểu gen và một số khác là đa gen nên đã sản sinh ra nhiều dạng hình lá.

Màu sắc lá thay đổi từ xanh nhạt đến xanh thẫm.

Hoa

Cũng như các loài khác trong họ đậu, hoa của đậu Hà Lan thuộc loại hoa lưỡng tính, tự thụ phấn là chủ yếu. Sự tự thụ phấn thường xảy ra trước khi hoa nở hoàn toàn. Do vậy tỷ lệ hoa thụ phấn chéo rất thấp.

- Hoa được sinh ra từ nách lá. Những giống cực sớm hoa xuất hiện từ đốt thứ 2 - 3 hoặc đốt thứ 5 - 6. Một số giống khác hoa xuất hiện từ đốt thứ 8 - 10. Những giống muộn hoa thường xuất hiện khi trên cây có 15 - 16 đốt hoặc 18 đốt và hoa ra liên tục cho đến khi cây già cỗi.

Hoa đậu Hà Lan thường có màu trắng, nhưng cũng có thể là màu hồng, màu hoa cẩm chướng, đỏ tía hoặc là màu hỗn hợp.

Hoa của những giống đậu Hà Lan ăn hạt (khô) thường là màu đỏ tía.

Quả

Số quả trên mỗi đốt quyết định bởi đặc tính di truyền của giống, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh. Vì vậy, khi cây sinh trưởng, phát triển trong điều kiện không tốt sẽ làm cho số đốt trên cây bị giảm.

Trên mỗi đốt của giống sớm trung bình có từ 1 - 2 quả, những giống muộn trên mỗi đốt trung bình có trên 2 quả. Một số giống có 4 quả mỗi đốt hoặc nhiều hơn.

Quả có 2 mảnh vỏ, kích cỡ quả cũng như số hạt trong mỗi quả là những đặc điểm cơ bản của giống, nhưng chúng cũng rất dễ bị thay đổi trong giống.

Hạt

Hạt đậu Hà Lan gồm có 2 lá mầm lớn, dự trữ chất dinh dưỡng, chúng bao quanh phôi và được bao bọc bởi vỏ hạt. Hai lá mầm có vai trò rất quan trọng ở thời kỳ đầu sinh trưởng của cây, những lá mầm có thể có màu hoặc không màu.

Hạt non nhẵn có hàm lượng tinh bột cao và hàm lượng đường thấp hơn hạt nhăn.

Kỹ thuật trồng trọt

Luân canh tăng vụ

Đậu Hà Lan yêu cầu luân canh triệt để với cây trồng khác họ, tốt nhất nên luân canh với cây trồng nước (lúa nước). Bố trí công thức luân canh hợp lý còn có thể sử dụng đất đai một cách hiệu quả, tăng thu nhập trên đơn vị diện tích. Tùy theo tập quán canh tác của địa phương có thể thiết kế nhiều công thức luân canh luân phiên nhiều loại cây trồng hàng năm với đậu Hà Lan.

Thời vụ gieo trồng

Ở các tỉnh miền núi phía Bắc gieo hạt vào tháng 9 - tháng 10. Vụ xuân gieo tháng 2 đến đầu tháng 3.

Vùng đồng bằng, trung du bắc bộ có thể gieo đậu Hà Lan vào các thời vụ sau:

Vụ sớm gieo vào trung tuần tháng 9 đến cuối tháng 9, thời vụ chính gieo vào 10 - 15 tháng 10, thời vụ muộn gieo vào cuối tháng 10 đến 5 - 10/11.

Vùng Đà Lạt (Lâm Đồng) thời vụ gieo đậu Hà Lan thích hợp từ tháng 9 đến tháng 10.

Đất và phân bón

- Đất gieo trồng đậu Hà Lan cần phải sạch cỏ dại, nhỏ, tơi xốp, tưới tiêu tốt.

- Mặt luống bằng phẳng rộng 1 - 1,1 m, chiều cao tùy theo mùa vụ gieo trồng. Ở những vùng khi gieo sớm gặp mưa cần làm luống cao, chiều cao luống 25 - 30 cm, chính vụ chiều cao luống 20 - 25 cm. Rãnh luống rộng 25 - 30 cm.

Phân bón cho 1 ha gieo trồng như sau:

  • 15 - 20 tấn phân chuồng hoai mục
  • 90 - 100 kg N
  • 60 - 90 kg P2O5
  • 100 - 120 kg K2O
- Phương pháp bón

Toàn bộ phân chuồng, phân lân, 1/3 tổng lượng kali bón lót vào rãnh trộn đều với đất ở độ sâu 15 - 20 cm. Khi gieo vào mùa khô có thể bón lót khoảng 1/4 tổng lượng đạm. Có thể dùng các chế phẩm phân bón để thay thế N, P, K đơn.

Khi bón phân lân cần chú ý đến mục đích sử dụng. Nếu trồng đậu Hà Lan để sử dụng quả non thì bón lượng lân vừa phải, nếu sản xuất hạt giống hoặc trồng để sử dụng hạt khô thì cần tăng cường bón lân.

Mật độ khoảng cách

Xác định mật độ khoảng cách cần dựa vào đặc trưng, đặc tính của giống, mặt khác còn căn cứ vào dinh dưỡng trong đất và mùa vụ trồng.

Những giống cao cây, phân cành mạnh cần gieo trồng thưa hơn giống lùn hoặc bán leo.

Khoảng cách hàng 60 - 65 cm, khoảng cách cây 18 - 20 cm (một hạt). Mật độ khoảng 8 vạn đến 8,5 vạn cây 1 ha.

Độ sâu lấp hạt

Nhìn chung hạt đậu Hà Lan nhỏ hơn hạt đậu cô ve, cô bơ. Vì vậy cần chú ý khi gieo không nên phủ đất lên hạt quá dày, sẽ cản trở sự nảy mầm và quá trình mọc của hạt. Tùy theo hạt to nhỏ, tính chất đất đai mà lớp đất phủ lên hạt dầy từ 3 - 3,5 cm.

Chăm sóc sau gieo

- Xới vun

Sau khi cây mọc từ 10 - 15 ngày cần tiến hành xới phá váng làm cho đất tơi xốp, thông thoáng, tạo điều kiện cho hệ rễ phát triển tốt.

Sau khi xới lần thứ nhất 10 - 15 ngày, thì xới nhẹ, nông, hẹp xung quanh gốc, nạo vét đất ở rãnh vun vào gốc cây.

- Tưới nước

Sau khi gieo hạt đến khi cây mọc lên khỏi mặt đất, nếu đất thiếu ẩm cần cung cấp nước cho hạt nảy mầm.

Khi cây trưởng thành cần bảo đảm độ ẩm đất 70 - 80%, thời kỳ ra hoa, quả phải cung cấp đầy đủ nước cho cây, thiếu nước ở thời kỳ này sẽ làm giảm năng suất. Thời kỳ đầu, sau khi gieo hạt dùng thùng hoặc ống dẫn nước có gương sen tưới phun đều trên mặt đất. Khi cây mọc lên khỏi mặt đất có thể sử dụng phương pháp tưới rãnh, dùng gầu, máy bơm nước, đưa vào rãnh ngập 1/2 so với độ cao luống. Khi nước thấm đều trên đồng ruộng thì tháo cạn.

- Bón thúc

Trong quá trình sinh trưởng cần cung cấp loại phân bón dễ tiêu để cây dễ dàng hấp thu chất dinh dưỡng. Số lần bón thúc từ 2 - 3 lần tùy theo tình hình sinh trưởng của cây. Bón thúc lần thứ nhất sau khi cây mọc khoảng 15 ngày, lần thứ 2 sau khi mọc 25 - 30 ngày, lần thứ 3 khi cây ra hoa rộ và quả non. Phương pháp bón có thể bón ở thể dung dịch hoặc bón dưới dạng khô, viên. Có thể chia đều lượng phân đạm cho số lần bón thúc, cũng có thể ở thời kỳ đầu khối lượng phân bón ít hơn một chút so với những thời kỳ sau. Nên hòa tan phân đạm (vô cơ) trong nước với nồng độ 1 - 2% để tưới vào gốc. Có thể bón phân ở dạng khô, dùng dầm (xén), que đào hốc sâu 5 - 7 cm giữa 2 cây, sau đó bón phân đạm rồi lấp đất. Sau khi bón phân cần tưới nước kịp thời để hoà tan phân bón, thiếu nước sẽ dẫn đến tình trạng nồng độ dung dịch trong đất cao làm ảnh hưởng tới sự phát triển của rễ. Mỗi hốc chỉ nên bón 2 – 3 g phân đạm.

- Làm dàn (cắm choái)

Đối với những giống đậu leo bò, cây cao, nhất thiết phải làm dàn. Không làm dàn năng suất sẽ bị giảm nghiêm trọng.

Khi cây bắt đầu xuất hiện tua cuốn cần kịp thời làm dàn để tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và bò leo hướng lên đỉnh dàn (nóc dàn). Làm dàn muộn, tua cuốn phát triển mạnh sẽ ảnh hưởng không tốt đến khả năng quang hợp của bộ lá do thân lá che khuất lẫn nhau, làm giảm khả năng tiếp xúc của cây đối với ánh sáng mặt trời, giảm độ thông thoáng... Do đó dẫn đến năng suất thấp. Làm dàn cho đậu Hà Lan tương tự như đậu cô ve, dàn theo kiểu chữ A. Chiều dài cọc dàn từ 1,5 - 2m, dùng nguyên liệu sẵn có của địa phương như cây que, trúc, nứa tép già, điền thanh, cây đay giống, hoặc cọc dàn, dây buộc được làm từ chất dẻo...

- Phòng trừ sâu bệnh hại

Áp dụng triệt để các biện pháp trong phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM), chú trọng chọn giống chống chịu sâu bệnh hại, luân canh, luân phiên triệt để, bón phân cân đối, tỉa bỏ lá già, vệ sinh đồng ruộng...

Đậu Hà Lan thường gặp những sâu bệnh hại sau:

- Bệnh lở cổ rễ

Bệnh hại phổ biến trên cây đậu rau ở các vùng trồng đậu Hà Lan. Triệu chứng bệnh là các bộ phận rễ, cổ rễ và phần gốc của thân gần sát mặt đất bị thâm đen, sau đó vết bệnh thối mục làm cho cây héo chết và đổ gục. Bệnh phát triển trong điều kiện nhiệt độ 18 - 25oC, độ ẩm không khí và độ ẩm đất cao, mưa nhiều, không tiêu nước kịp thời, trồng đậu trên đất trũng...

Sau khi mưa cần xới xáo cho đất tơi xốp, thông thoáng. Trước khi gieo chú ý bón vôi, 1 ha bón 1,5 - 2 tấn vôi, tăng cường bón lân và kali.

- Bệnh virut

Đậu Hà Lan bị nhiều loài virut xâm hại, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng như: virut vàng ngọn, virut CMV... Rệp là vectơ truyền bệnh. Biện pháp chủ yếu là chọn giống chống chịu bệnh hại, vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ rệp bằng thuốc hoá học bảo vệ thực vật như thuốc thảo mộc, Trebon 10EC, Sherpa 25EC...

- Sâu hại

Sâu hại trên cây đậu Hà Lan chủ yếu là rệp, sâu đục quả... Thực hiện luân canh, luân phiên triệt để, bón phân cân đối, khi sâu hại chưa phát triển thành dịch hại, có thể bắt bằng tay... là những biện pháp hữu hiệu phòng trừ sâu hại. Khi sâu hại phát triển mạnh dùng thuốc thảo mộc để phòng trừ. Đối với sâu đục quả có thể dùng Sumicidin 10EC hoặc Sherpa 25EC.

Theowww.longdinh.com

[Về Trang Trước]


   Các tin khác:

TIN TỨC
KỸ THUẬT

Cây màu xen thanh long

BẢO VỆ THỰC VẬT

Ong ký sinh phòng trừ rệp sáp bột hồng hại sắn

PHÂN BÓN

Phân bón nào phù hợp thổ nhưỡng, cây trồng Tây Nguyên?

GIỐNG CÂY

Phục tráng giống lúa Cáy Nọi

KINH NGHIỆM NHÀ NÔNG
Ươm cao su giống, thu tiền tỷ
BÀN TRÒN

Bệnh ở cây lộc vừng

Bản quyền © 2010-2013 Thuộc về baovecaytrong.com.