Bảo vệ cây trồng
baovecaytrong.com
  KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT» email Thứ Hai, 29/5/2017
Cây Trồng  

"Bệnh vàng lùn" hại lúa tại đồng bằng sông Cửu Long

Tiến sĩ Phạm văn Dư

Bộ Môn Bệnh cây, Viện Nghiên  Cứu Lúa ĐBSCL

Email: phamvandu@hcm.vnn.vn

 

I. Tình hình chung:

 

Triệu chứng vàng và lùn cây lúa là một dạng đặc trưng của một bệnh do virut hoặc mycoplasma gây ra do rầy xanh đuôi đen (Nephottetis virescens và Nephotettis nigropictus)  là môi giới truyền bệnh đã được ghi nhận từ lâu, khoảng năm 1969 ở Ấn Độ, Bangladesh, Philippines, Thái Lan, Indonesia và Nhật Bản. Bệnh được gọi là Tungro nếu tác nhân là do virút ở 2 dạng gọi là RTSV (Rice Tungro Spherical Virus) và dạng RTBV (Rice Tungro Bacilliform Virus, nhưng nếu tác nhân là Mycoplasma thì gọi là bệnh Vàng lụi. Ở Miền Bắc Việt nam, bệnh dược ghi nhận trong những năm 1964, 1966 và 1970 trên giống Mộc Tuyền với diện tích khá lớn khoảng 50.000 ha.

 

Một số bệnh trên lúa do virut gây ra mà rầy nâu là môi giới truyền bệnh. Có 2 dạng phổ biến là Lùn xoắn lá (Rice Ragged Stunt Virus) và một bệnh khác là  Lùn Lúa Cỏ (Rice Grassy Stunt). Hai bệnh do Rầy Nâu truyền có triệu chứng rất đặc trưng là cây lúa cũng bị lùn hẳn. Lùn, đẻ ít chồi và đặc biệt là lá bị xoăn lại, bông ngắn hoặc trổ không thoát đó là Lùn xoăn lá, rất phổ biến, bệnh xuất hiện theo sau những trân dịch của rầy nâu, hầu hết bà con nông dân đều biết và gọi đúng tên. Đối với bệnh Lùn lúa cỏ thì ngược lại, sau khi cây lúa bị nhiễm bệnh do rầy nâu chích hút và truyền bệnh thì bụi lúa có khuynh hướng bị lùn hẳn và đặc trưng là đẻ rất nhiều chồi như bụi cỏ, trên dồng ruộng, bệnh Lùn lúa cỏ thường có tỉ lệ ít hơn bệnh Lùn xoăn lá. Như vậy nếu môi giới truyền bệnh là rầy nâu thì cho đến nay chỉ có hai bệnh là lùn xoăn lá và lùn lúa cỏ mà triệu chứng đặc trưng như đã mô tả, vẫn chưa có ghi nhận nào mới.

 

Tuy nhiên, ở Đồng bằng sông Cửu Long, từ năm 1989 có xuất hiện một triệu chúng cây lúa bị Vàng và Lùn, tỉ lệ nầy có thể từ 5-10 % hoặc 50 % trên một số giống và một số ruộng, một số giống như OM CS 96, OM 997-6, OM 1248 được ghi nhận nhiễm bệnh..Tuy nhiên điều đáng quan tâm ở đây là triệu chứng trên lại có cùng đỉnh cao xuất hiện của quần thể rầy nâu ?. như vậy có thể đây là một bệnh mới cần có những nghiên cứu để kết luận nhằm tránh sự lây lan bệnh trên diện rộng. Bệnh xuất hiện thông thường với tỉ lệ rất thấp, có những năm gây hại khá lớn

 

Ngày 21 tháng 1 năm 2000, Thứ Trưởng Bộ Nông Nghiệp Ngô Thế Dân có gửi công văn cho các Sở Nông Nghiệp và PTNT, Viện Trường các tỉnh phía nam, thông báo về tình hình bệnh vàng lùn xuất hiện cùng với sự bùng phát của dịch rầy nâu. Đến cuối tháng 12-1999 có 13.120 ha lúa bị nhiễm ở các tỉnh Bến tre, TP Hồ chí Minh, Bạc Liêu và Long An, riêng TP HCM có 242 ha bệnh vàng lùn và không trổ được. Bộ NN và PTNT giao nhiệm vụ cho Cục BVTV chủ trì phối hợp với Viện khoa học NN Miền Nam và Viện lúa ĐBSCL tổ chức thực hiện nghiên cứu và xác định tác nhân bệnh vàng lùn, quy luật phát sinh và phát triển của bệnh liên quan đến rầy nâu. Trong năm 1999, Hội nghị Cục BVTV phía Nam gọi là bệnh “Vàng Lùn”, chưa rõ tác nhân

 

Vừa qua, từ đầu vụ Hè thu 2006 dịch bệnh lại phát triển và lan rộng trên hầu hết các tỉnh ĐBSCL, với mật số rầy nâu rất cao, diện tích bị nhiễm bệnh vàng lụi riêng tại Đồng Tháp với thiệt hại < 30 % là 613 ha, và > 30 % là 2636 ha trong đó thiêu huỷ khoảng 500 ha.

 

II. Tình hình nghiên cứu và kết quả bước đầu về xác định tác nhân:

 

Kết quả nghiên cứu từ Bộ môn BVTV, trường Đại Học Cần Thơ gọi là “bệnh lúa cỏ dòng -2” từ các thí nghiệm về truyền bệnh Rầu nâu với cây lúa khỏe (PGS Phạm văn Kim).

 

Ở Viện lúa ĐBSCL, trong những năm đó còn thiếu phương tiện, nhất là máy đọc ELISA và kháng huyết thanh của một số dòng virus trên lúa như Tungro (RTSV, RTBV), Lùn xoăn lá (RRSV) Lùn lúa cỏ (RGGSV), Vàng lụi (RDV, rice dwarf virus), cho nên chỉ tiến hành thu thập mẫu bệnh và gửi sang Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI, Philippines, do Tiến sĩ Ossmat Azzam, virologist của bộ môn Bệnh cây thực hiện, từ tháng 4-1996 đến tháng 1-1997, trong tổng số 163 mẫu, có phản ứng dương tính với 3 loại virut RTBV, RTSV (Tungro) và Lùn xoăn lá RRSV với tỉ lệ rất thấp 4 mẫu/140.

 

Tháng 1-2005, chúng tôi mời  Tiến sĩ R.C. Cabunagan và I.R. Choi, 2 nhà virus học của Viện IRRI sang, kết quả phân tích cho thấy trong số 52 mẫu lúa bị bệnh, chỉ có 1 mẫu có phản ứng dương tính với RTSV (tungro), và 7 mẫu với bệnh Lùn lúa cỏ (RGSV)

 

Tháng  3-2006, tôi có mời thêm Tiến sĩ  Hong Soo Choi, chuyên về virut, bộ môn bệnh cây, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Nghiệp Quốc gia, Suwon, Korea cùng Tiến sĩ  I. R. Choi của IRRI, sang lấy mẫu và tiếp tục thực hiện các giám định về bệnh bằng PCR và thực hiện giải mã (sequencing). Kết quả về kháng huyết thanh cho thấy có nhiều triển vọng để có thể đi đến những kết luận bước đầu. Kết quả mẫu bệnh vàng lùn thu thập được tại Tiền Giang do Trung Tâm BVTV Phía nam hướng dẩn và lấy mẫu, Chi Cục BVTV An Giang hướng dẩn và thu mẫu: 2 mẫu/30 có phản ứngvới Tungro RTSV, 27/30 mẫu có phản ứng với Lùn lúa cỏ, 19/30 mẫu có phản ứng với Lùn xoăn lá trên cùng cây lúa bị bệnh.

 

III. Kết luận:

 

Như vậy sau gần 17 năm xuất hiện và 10 năm nghiên cứu, cho đến bây giờ chúng ta có thể kết luận bước đầu: Bệnh vàng lùn là một bệnh mới do sự phối trộn của 3 loại virut là Lùn Lúa cỏ, Lùn xoăn lá truyền bệnh do rầy nâu và Tungro do rầy xanh truyền bệnh . Thí nghiệm lây bệnh trở lại do Tiến sĩ  I.R. Choi thực hiện tại nhà lưới IRRI với sự phối trộn của 3 loại virút trên cho cùng triệu chứng như đã thấy ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Những kết quả nghiên cứu về virút sử dụng PCR và sequencing sẽ được thông báo sau.

 

 

 

TS. Phạm Văn Dư, TS Roger và cán bộ Chi cục BVTV An Giang

thu thập mẫu để giám định bệnh vàng lùn

IV. Phương hướng khắc phục

Kinh nghiệm ở Philippines cho thấy, khi bệnh virút Tungro có xu hướng phát triển mạnh trên giống IR 64 thì diện tích sản xuất giống lúa nầy giảm từ 70.000 ha (1992) cho đến 2002 thì hầu như không có nông dân nào trồng giống IR 64. Bệnh do virút gây ra là một bệnh rất khó trị và không có loại thuốc hoá học đặc trị nào như các dạng bệnh khác.Bệnh vàng lùn mới hiện nay phức tạp hơn vì liên quan nhiều thành phần trong hệ sinh thái như: (1) Quần thể rất cao của Rầy nâu, (rầy xanh) (2) Sự phối hợp của 3 loại virút (xoăn lá, Lúa cỏ và Tungro) (3) Môi trường sản xuất thâm canh, nhiều vụ kéo dài liên tục, bón phân đạm cao và (4) Giống lúa nhiễm rầy, nhiễm virút.  Do đó cần thực hiện một số biện pháp sau:

 

  1. Trước hết phải thực hiện canh tác lúa theo tinh thần 3 G, 3 T, trong đó không bón thừa N, giảm mật độ sạ cấy, giảm sử dụng thuốc hóa học nhằm tạo thế cân bằng sinh học trên diện rộng, bón phân cân đối tạo sức đề kháng cho cây lúa, sạ cấy thưa tạo điều kiện cho ánh sáng xuyên qua tán, sương mù sẽ tan nhanh trên lá, do nhiệt độ tăng, ẩm độ giảm trong tán tạo thế bất lợi cho sâu bệnh phát triển.

  2. Cày bỏ ngay số diện tích lúa bị nhiễm bệnh,  vì rầy nâu có thể tiếp tục chích hút cây lúa bị bệnh và mang virút phát tán đi nới khác, cây lúa bị bệnh còn tồn tại trên ruộng sẽ là mầm móng chứa virút, cày ải phơi đất sẽ diệt mầm virút trong gốc rạ.

  3. Không trồng giống nhiễm Rầy, nhiễm virút trên diện rộng (?)

  4. Gieo sạ đồng loạt trên diện rộng lớn, nhằm hạn chế di chuyển của quần thể rầy, do chuyển tiếp nguồn thức ăn cho nên rầy mang virút lây lan ra diện rộng, do vậy không nên gieo trồng rãi rác có liên quan đến vụ 3, chỉ nên tập trung 2 vụ. Dịch bệnh vàng lùn có liên quan mật thiết đến thời vụ gieo sạ liên tục trên ruộng, cả không gian và thời gian đều tối hảo để dịch bệnh phát tán.

  5. Tăng cường sức đề kháng của lúa đối với virút, sử dụng một số chất kích kháng có thể hạn chế sự phát triển của virút trong cây lúa như K2HPO4, CuCl2 cho xử lý hạt, Humid acid (Risopla V) 1-1,5 kg/ha bón lót thì càng tốt.

  6. Giống kháng là biện pháp có hiệu quả kinh tế nhất, giống kháng đối với rầy nâu chưa hẳn là kháng đối với virut, hơn nửa bệnh vàng lùn là sự phối hợp của 3 loại virút (Xoăn lá, lúa cỏ và Tungro) do vậy công tác thanh lọc giống kháng là khá phức tạp. Viện lúa cần có sự hổ trợ về kinh phí để thực hiện các nghiên cứu nầy.

  7. Sử dụng thuốc hóa học có thể làm giảm mật số rầy nhưng vẫn không thể giải quyết được bệnh vàng lùn, vì sự truyền bệnh có thể xãy ra giửa rầy-và cây lúa trong khoảng thời gian rất ngắn.

 

Các Viện, Trường cần hợp tác trong nghiên cứu phòng trừ bệnh vàng lùn như:

  1. Giống kháng bệnh vàng lùn

  2. Thời gian gieo sạ đồng loạt và thích hợp, phối hợp trên diện rộng

  3. Virut gây bệnh vàng lùn, thời gian truyền bệnh (mode), thời gian ủ bệnh

  4. Quan hệ sinh học về phát sinh phát triển giữa virút và rầy nâu-rầy xanh

  5. Các biện pháp canh tác học đối với bệnh vàng lùn

  6. Ứng dụng đa dạng sinh học trong phòng trừ bệnh

 

V. Tài Liệu Tham Khảo

Phạm văn Dư, RC Cabunagan and IR Choi (2005). Rice Yellowing Syndrone in Mekong River Delta. OMonrice 13: 135-138

OU.SH (1984). Rice diseases

Theo www.clrri.org

[Về Trang Trước]


   Các tin khác:

TIN TỨC
KỸ THUẬT

Cây màu xen thanh long

BẢO VỆ THỰC VẬT

Ong ký sinh phòng trừ rệp sáp bột hồng hại sắn

PHÂN BÓN

Phân bón nào phù hợp thổ nhưỡng, cây trồng Tây Nguyên?

GIỐNG CÂY

Phục tráng giống lúa Cáy Nọi

KINH NGHIỆM NHÀ NÔNG
Ươm cao su giống, thu tiền tỷ
BÀN TRÒN

Bệnh ở cây lộc vừng

Bản quyền © 2010-2013 Thuộc về baovecaytrong.com.